Vài
cảm nhận về tính nhân văn trong truyện Nôm
cổ
Lưu
Hương Diễn Nghĩa Bảo Quyển (1)
TRƯỜNG KƯ
Lưu
Hương Diễn Nghĩa Bảo Quyến là một
truyện Nôm cổ được phát hiện tại kho
sách cũ của chùa Hội Khánh, tỉnh B́nh Dương.
Nhận thấy đây là quyển sách quư hiếm nên Hội
Khoa học lịch sử B́nh Dương đă kịp
thời cho ấn hành và ra mắt độc giả vào tháng
8-2006.
Cuốn sách
này viết theo thể truyện Nôm, được khắc
in vào năm Quang Tự thứ 34 (tức năm Nhâm Thân 1908)
do hai tín nữ Nguyễn Từ Nguyên và Hoàng Diệu Trúc thực
hiện.
Như vậy
cuốn sách kể từ khi hai tín nữ có thiện chí
khắc in và lưu truyền đến nay đă gần
một thế kỷ (1908- 2006). Cũng không rơ khi đưa
khắc in, cuốn Lưu Hương Diễn Nghĩa
Bảo Quyến đă tồn tại ở đời bao
nhiêu năm tháng và ai là người đă dịch từ
chữ Nôm ra truyện thơ chữ Quốc ngữ và
trước sau khi được hai tín nữ khắc in
vào năm 1908 (đầu thế kỷ XX) đến nay có
ai đă biên dịch, ấn hành, tái bản, khảo cứu
và đánh giá nó về mặt nội dung, nghệ thuật
thể hiện, về tác dụng đối với xă
hội và đời sống con người? Tất cả
các vấn đề đặt ra đang c̣n bỏ ngỏ.
Cho nên bài viết này của kẻ hậu thế chỉ
giới hạn trong “Vài cảm nhận về tính nhân văn...”
trong truyện Nôm cổ này mà thôi. Mục đích để
làm rơ những ưu nhược điểm của nó
với tính chất “ôn cố tri tân”, “đăi cát t́m vàng”
về một tác phẩm cổ có giá trị nhân văn và
đáng trân trọng nhưng đă bị lớp bụi
thời gian che lấp một thế kỷ nay.
Toàn bộ
truyện cổ xoay quanh cuộc đời của nhân
vật nữ tên là Lưu Hương. Nàng xuất thân trong
một gia đ́nh b́nh dân, là con gái độc nhất của
ông bà Lưu Quang - Từ thị làm nghề buôn bán nhỏ
với hàng rượu thịt. Khi lớn lên nàng
được nghe một ni cô giảng giải về
thuyết nhân quả về đạo Phật nên đă
quyết chí tu hành và t́m trong đó niềm an ủi cho tâm
linh của ḿnh. Nàng khuyên gia đ́nh bỏ nghề buôn bán
rượu thịt và đổi sang nghề buôn bán khác
để sinh sống. Cha mẹ đă nghe theo nàng
để ngày sau linh hồn được siêu thoát.
Tưởng cuộc đời thế là tạm ổn. Ai
ngờ một ngày kia xuất hiện đám gia nhân họ
Mă tại quán Lưu Quang. Trong đám này có những kẻ
ỷ quyền thế, làm nhiều chuyện ác độc,
gây những điều tang tóc đối với
lương dân. Bởi thế tác giả đă giới
thiệu về sự xuất hiện của Mă gia với
lời lẽ không mấy thiện cảm:
Thuyết
đoạn Viên ngoại Mă gia
Đương đời hào phú vinh
hoa uy cường
Bản tính sâu độc nhiều
đường... (2)
Thế
rồi chuyện xuất hiện của Viên ngoại Mă gia
chính là sự báo hiệu tấn bi kịch của cuộc
đời Lưu Hương. V́ thấy nàng Lưu
Hương trẻ trung xinh đẹp, Viên ngoại ngỏ
ư xin cưới nàng cho con trai ḿnh là Mă Ngọc. Dù trong ḷng
không ưng thuận nhưng v́ nể gia thế, địa
vị của viên ngoại nên Lưu Quang đă phải
miễn cưỡng chấp nhận. Khi bị vợ trách
móc, Lưu Quang đă phân bua:
Người
ta chức trọng quyền cao
Thấy con người hỏi
biết sáo chối từ...
Từ
chối không gả con cho một gia đ́nh có địa
vị, quyền thế sẽ chuốc lấy những tai
họa về sau. Biết trước mầm tai họa nên
chính Lưu Hương dù không muốn kết duyên với
bất cứ một ai để quyết chí tu hành cũng
đành phải chấp nhận. Nàng đă chua xót, khuyên cha
mẹ:
Khuyên cha cùng
mẹ vui mừng
Việc này mà chẳng tinh tuân hiệp ḥa
Ắt sau gây oán cả nhà
Thưa cha cùng mẹ nghe mà lời con.
Đến
đây hiện thực xă hội dần dần hé mở,
kẻ giàu sang, quyền thế trong xă hội đă tự
tung, tự tác, ép t́nh, ép duyên, làm cho bao gia đ́nh tan nát,
dẫn đến tấn bi kịch. Rồi câu chuyện
được dẫn dắt tới đỉnh cao. Sau khi
trở về làm vợ Mă Ngọc, sống trong gia đ́nh
họ Mă, nàng Lưu Hương bị mẹ chồng, hai
người anh chồng, hai chị dâu của chồng vu
oan giá họa, đánh đập chửi mắng, hành hung,
bôi nhọ, vu cho nhiều tội lỗi trong đó có
tội dâm loàn, theo trai, rồi bị cạo trọc
đầu đuổi ra khỏi nhà đi làm hành khất
để kiếm sống...
Khi chồng
nàng (Mă Ngọc) thi đỗ Trạng nguyên trở về
không thấy vợ, liền hỏi để biết
sự t́nh, bởi chàng là người nhân hậu, có học
vấn và rất thương yêu vợ:
Trạng nguyên
trong dạ ưu phiền,
Cớ sao chẳng thấy vợ
hiền vào ra
Chàng bèn, tính với mẹ cha,
Chẳng biết hiền phụ ĺa xa
phương nào
Cho nên chẳng thấy ra vào,
Ḷng con ái ngại ngọt ngào khôn phân.
Nghe hỏi
vậy, Viện quân (mẹ chồng) lại xuyên tạc
sự thật, vu oan cho nàng với lời lẽ hiểm
ác:
Từ con
ứng cử lộ tŕnh,
Ở nhà nó lại thịnh t́nh trái
ngang
Mẹ giận đuổi gần
phần trang
Lang tâm cùng chúng hổ hang muôn phần.
Linh tính
nhạy bén, khiến chàng Mă Ngọc không nghe lời Viện
quân. Đêm ngủ không được bởi “Năm canh
chẳng ngạt pḥng đào/Cảm thương hiền
phụ ra vào thở than”. Chàng quyết đi t́m sự
thật nên đă đến hỏi người quản
trang để biết rơ thực hư. Người
quản trang đă cho chăng Mă Ngọc biết tất
cả sự thật phũ phàng:
“Từ ông
ứng cử khoa trường ở nhà gặp những
nhiều đường gian nan./Tam nương khổ
sở đa đoan Bởi v́ hai chị mưu gian
đặt bày. Mẫu gia đánh khảo đọa đày,
Gần đây nàng ngụ tôi rày dưỡng nuôi.
Phước nhà trời Phật khiến xuôi/Nàng bèn
khuyếnhóa nên tôi tu hành./Nào hay hai ch.i chẳng lành. Nghe ông
dỗ trạng bà thành phu nhơn. Hai người bàn
luận thâu hơn. Lập mưu thiết kế bất
nhơn đặt bày./Rằng bà gần ở đâu
rày,/Gian dâm cùng chúng đêm ngày nhởn nhơ. Mẫu gia
chẳngtri cơ. Sai người lên rước tiểu
thơ đem về.Đánh khảo thảm thiết
nhiều bề Tóc tai cạo hết chẳng hề ḷng
thương. Trong lôi tống khứ tha phương,
Chẳng biết tọa lạchương thôn nơi nào”.
Thực
tế này đă tố cáo tội ác của Viện quân
(mẹ chồng của Lưu Hương) đối
với nàng. Đây không chỉ là mâu thuẫn giữa mẹ
chồng nàng dâu nói riêng mà c̣n là mâu thuẫn giữa quyền
sống con người với xă hội phong kiến mà
người phụ nữ là nạn nhân số một.
Họ bị đẩy đến bước
đường cùng không lối thoát và chịu cay
đắng muôn phần.
Do ảnh
hưởng giáo lư tích cực của đạo Phật và
dân gian: Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác,
tácgiả truyện Nôm cổ đă có lời khuyên răn bá
tánh phải tu nhân, tích đức, ăn ở hiền lành,
xa rời điều ác.
Rằng ai
kiếp trước thiện duyên
Kim sanh phú quư hiển vinh tước
quyền
Bằng ai tiền thế ác nhơn
Đời này thọ khổ mắc
ơn tai nàn.
Thể
hiện được những vấn đề trên (hay
nói cách khác, tác giả truyện Nôm đă đặt
được vần đề về kiếp sống
khổ đau của người phụ nữ trong xă
hội) đă là một thành công cần khẳng
định. Qua cách đặt vấn đề đă toát
lên tính nhân văn của tác phẩm. Đó là ḷng
thương người, nhất là một phụ nữ
liễu yếu đào tơ tính t́nh hiền hậu, trong
sáng, có ḷng mộ đạo... lại bị kẻ hung ác -
chính là mẹ chồng, chị dâu... - có thế lực, giàu
sang ức hiếp vùi dập. Trước cái ác,
người con gái Lưu Hương, xuất thân tầng
lớp b́nh dân không có ai che chở, chỉ đáp lại
bằng sứ nhẫn nhục. Đó vừa là sự
hạn chế của tác giả - tác phẩm nhưng chính
đó cũng là điều làm cho người đọc
day dứt, cảm thông. Khiến cho độc giả
nhiều lúc phải nghẹn ngào xúc động khi thấy
nàng bị hành hạ, vùi dập một cách đáng
thương. Đó phải chăng là sự thành công
của tác giả truyện Nôm Lưu Hương Diễn
Nghĩa Bảo Quyển?
Trong tác
phẩm này, tác giả c̣n để cho nhân vật Lưu
Hương tự bộc lộ tâm trạng, nhận
thức của ḿnh về những điều nghịch lư
đang diễn ra trong cuộc sống. Những nghịch
lư này dù cách đây đă ngót 100 năm nhưng nó c̣n tái
diễn đó đây trong cuộc sống thực tại:
Người
lành chịu khổ thiết tha,
Người dữ quảng tích tài
đa muôn ngh́n
Làm lành rách rưới lang thang
Làm dữ gấm nhiễu bạc vàng
nhởn nha
Làm lành khổ năo nạn ma
Làm dữ tửu yến sênh ca vui
cười.
Ở đây
tác giả truyện Nôm đă có cái nh́n nhân bản, qua
việc nêu lên những nghịch lư, kẻ đạo
đức, hiền lành, tài ba... lại sống cuộc
đời thiếu thốn, gặp vận không may; trái
lại kẻ “dữ” - ác độc, thiếu nhân cách
thiếu hiểu biết lẽđời, làm càn quấy
nhũng nhiễu là kẻ sống sung túc giàu sang, “nhởn
nha” với “gấm nhiễu, bạc vàng”. Một sự
thiếu công bằng xă hội!? Nêu lên được
“nghịch lư” này tác giả truyện Nôm cổ đă có cái
nh́n tiến bộ, đáng trân trọng. Cái nh́n này đă
thể hiện cách nay một thế kỷ nhưng vẫn
c̣n mới, c̣n mang tính thời sự th́ thật đáng
nể!
Về mặt
nghệ thuật, lối kể chuyện có nhiều
chỗ trùng lặp như những đoạn kể
về cuộc đời của Lưu Hương
(xuất thân gia đ́nh, tu hành, v́ hoàn cảnh bức bách
phải lấy chồng, bị mẹ chồng, chị dâu
vùi dập...) được kể đi kể lại
nhiều lần, gây sự nhàm chán, không cần thiết.
Nghệ thuật kể chuyện và văn chương, câu
chữ c̣n nhiều chỗ rườm rà... chưa
tương xứng với nội dung, nên việc
truyền bá c̣n hạn chế. Bù lại có nhiều chi
tiết trong tác phẩm được tác giả sử
dụng khá đắt. Chẳng hạn, đoạn Lưu
Hương bị mẹ chồng vu oan dâm loàn, theo trai
rồi cạo trọc đầu đuổi ra khỏi
nhà... Những nắm tóc của nàng bị vứt ra
trước “lộ dinh”, sau đó bầy chim nhạn bay qua
trông thấy đă sà xuống “cắn tóc” đem về
rừng làm tổ để cầu cho sự sống an
toàn, ấm áp. Đó là chi tiết rất hay. Nó có một giá
trị so sánh, lên án cái ác của con người. Con
người có hiềm khích độc ác ngay cả với
đồng loại (cắt tóc một cô gái đoan trang
nết na vứt ra đường; trái lại loài chim -
thường gọi là cầm thú lại biết quư
trọng mớ tóc xanh, cắp về xây tổ ấm).
Như vậy con người trong một chừng mực
nào đó c̣n thua cả loài vật, chim muông. Đó cũng là
lời cảnh báo, cần phải suy ngẫm và cảnh
tỉnh để làm cho cuộc sống chuyển biến
tốt đẹp hơn.
Điều
này cho thấy một tác phẩm thể hiện tính nhân
văn dù xuất hiện nơi đâu và lúc nào, nó vẫn có
thể vượt qua không gian và thời gian để
khắc sâu trong ḷng người đọc giúp họ suy xét
ngẫm nghĩ những điều hay và cảnh tỉnh
những điều xấu! Trường hợp này
cũng đúng với cuốn truyện Lưu Hương
Diễn Nghĩa Bảo Quyển, bởi tác phẩm này có
nguồn gốc từ đời nhà Tống bên Trung
Quốc và theo ông Phan Thanh Đào, Hội Khoa học lịch
sử B́nh Dương, nó “đă được một tác
giả Việt Nam nào đó đă diễn Nôm thành tập
thơ Lưu Hương Diễn Nghĩa Bảo Quyển
như đă thấy”(3). Rồi từ bản chữ Nôm,
một tác giả khác (cũng chưa rơ tên) dịch ra thành
bản chữ Quốc ngữ và được lưu
giữ cho đến ngày nay. Tác phẩm này mang chủ
đề ngợi ca sựtu hành của những tín
đồ của đạo Phật và thuyết nhân
quả, có tính chất răn dạy con người tu nhân
tích đức làm nhiều điều tốt cho
đạo, cho đời nên đă được-
người đời - nhất là các tín đồ
đạo Phật ưa thích giữ ǵn. Kết thúc
cuốn truyện cũng theo kiểu “có hậu”
thường thấy: ở hiền gặp lành... Lưu
Hương trải qua bao cay đắng nhưng vẫn
một ḷng kiên tŕ tu hành nên đă đắc đạo.
Cuối cùng đă cảm hóa được bao nhiêu
người lỗi lầm trở thành lương
thiện. Riêng người chồng nàng là Mă Ngọc - kiên
tŕ đèn sách, đă đỗ Trạng nguyên,
được vua bổ làm quan; rồi nghe mẹ cha và nghe
cả lời khuyên của Lưu Hương đă cưới
Kim Chi một cô gái có gia đ́nh môn đăng hộ
đối, hưởng vinh hoa phú quư đời. Nhưng
rồi cũng tỉnh ngộ “trả ấn từ quan”,
trở về theo nghiệp tu hành để t́m trong đó
nguồn vui và siêu thoát.
Ngày nay
những người tu hành với phương châm: tốt
đời, đẹp đạo hướng những tín
đồ tu rèn đạo đức, nhân cách, làm nhiều
việc thiện góp phần làm đẹp cho quê
hương đất nước đổi mới và
đi lên. Cuốn sách Lưu Hương Diễn Nghĩa
Bảo Quyển được Hội Khoa học lịch
sử B́nh Dương ấn hành dù có những hạn
chế nhất định nhưng nh́n chung là một tác
phẩm có giá trị trong kho tàng truyện Nôm cổ
nước ta, là tài liệu tham khảo tốt cho những
nhà nghiên cứu học thuật và đông đảo
bạn đọc- kể cả những nhà tu hành bởi
nó giàu tính nhân văn và khuyên con người hướng
thiện để làm nhiều việc tốt hơn nữa
cho nước cho dân.
T.K.
(1) Lưu Hương Diễn Nghĩa
Bảo Quyển, Hội Khoa học lịch sử B́nh
Dương ấn hành - 2006
(2) Những
câu thơ trích trong bài viết dẫn từ cuốn Lưu
Hương Diễn Nghĩa Bảo Quyển, Hội Khoa
học Lịch sử B́nh Dương, ấn hành S.đ.d
(3) Trích dẫn theo Lưu Hương
Diễn Nghĩa Bảo Quyển, Hội Khoa học
lịch sử B́nh Dương, ấn hành trên trang 2
(Nguồn: http://www.sugia.vn)